Công ty than Dương Huy 35 năm xây dựng và phát triển

Thứ tư - 26/12/2012 10:39
Công ty Than Dương Huy, tiền thân là Công ty Xây lắp Cẩm Phả, thành lập ngày 07/01/1978, được tách ra từ Công ty Xây dựng Than - Điện của Bộ Mỏ và Than. 35 năm qua, từ một đơn vị chuyên xây lắp các công trình công nghiệp mỏ, Công ty đã chuyển hướng sang sản xuất than với nhiều gian khó và đã vượt qua, đưa sản lượng than từ 121,7 ngàn tấn (năm 1993) lên hơn 2 triệu tấn (năm 2011). Công ty được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì năm 2002, hạng Nhất năm 2007 và Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2012. Thợ đào lò Hà Văn Hồng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Trong thời kỳ thực hiện nhiệm vụ xây lắp (từ năm 1978 đến 1990), Công ty đã xây dựng thành công nhiều công trình công nghiệp lớn, góp phần quan trọng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh và sự lớn mạnh của Ngành Than.Tiêu biểu là công trình Xây dựng Mỏ than Mông Dương. Đây là mỏ hầm lò khai thác bằng giếng đứng, lần đầu tiên áp dụng ở nước ta. Hệ thống lò xuyên vỉa, dọc vỉa ở mức -97,5 m đến lộ vỉa -50 m, đó là một trong 4 công trình trọng điểm Quốc gia hợp tác với Liên Xô. Công ty còn xây dựng hàng loạt công trình lớn, đưa vào sản xuất, đã phát huy hiệu quả cao như Mỏ than Khe Chàm; các công trình công nghiệp, dân dụng trọng yếu cho Mỏ than Cao Sơn; tuyến băng tải Bàng Nâu, máng ga Cao Sơn, tuyến đường sắt vận tải Cao Sơn; hệ thống cầu cống và đường sắt tuyến Cửa Ông - Mông Dương; các tuyến đường ô tô trong tỉnh như Quốc lộ 18, đường giao thông liên huyện tại các huyện Tiên Yên, Ba Chẽ; cải tạo xây dựng mở rộng Nhà máy Tuyển than Cửa Ông, Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng. Tham gia đào lò và bàn giao mỏ than Tân Lập vào sản xuất; xây dựng Mỏ than Khe Bố (Nghệ An); đào tuynel Tây Khe Sim... Ngoài ra Công ty còn tham gia cùng các ngành khác xây dựng các công trình công nghiệp quan trọng như Nhà máy Đại tu ô tô Vườn Cam (nay là Công ty CP Công nghiệp Ô tô - Vinacomin), Nhà máy Cơ khí Trung tâm Cẩm Phả (nay là Công ty CP Chế tạo máy - Vinacomin), các công trình phúc lợi của Thành phố Cẩm Phả như nhà hát, sân vận động và nhiều công trình khác.
 
Chuyển hướng sản xuất 
 
Đầu thập kỷ 90, Công ty gặp rất nhiều khó khăn gay gắt. Từ chỗ nguồn vốn xây lắp chủ yếu được Nhà nước cấp phát theo cơ chế quản lý bao cấp, khi bước vào cơ chế thị trường, nguồn vốn phải đi vay tín dụng đầu tư để phát triển và đầu tư cho sản xuất. Vì vậy, Công ty gặp khủng hoảng về việc làm, kéo theo khủng hoảng về tài chính. Trước tình hình đó, Bộ giao thêm cho Công ty nhiệm vụ quản lý, xây dựng và khai thác Mỏ than Khe Tam. Đây là bước ngoặt quan trọng của Công ty. Tuy nhiên, khi chuyển dần sang sản xuất, Công ty gặp những khó khăn mới, đó là việc làm không ổn định; cơ cấu lao động mất cân đối nghiêm trọng, thừa lao đông phổ thông và các nghề khác nhưng  thiếu cán bộ công nhân nghề khai thác mỏ, xây dựng mỏ hầm lò. Công ty vừa phải tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng vừa khai thác than, năng lực thiết bị hiện hạn chế, đội ngũ công nhân, cán bộ thiếu  kinh nghiệm, tình hình tài chính hết sức khó khăn, trong khi đó, để tăng năng lực và mở rộng sản xuất đòi hỏi có nguồn vốn đầu tư rất lớn. Mặt khác, khi chuyển hướng sản xuất, bộ máy Công ty vẫn 2 cấp, có tới 9 xí nghiệp trực thuộc, với hơn 4200 lao động; bộ máy cồng kềnh, hoạt động lúng túng, kém hiệu quả. Năm 1993, sản lượng than nguyên khai đạt 121,7 ngàn tấn; doanh thu 44.480 triệu đồng; thu nhập 234 nghìn đồng/người/tháng.
 
Năm 1998 Tổng Công ty quyết định sắp xếp lại tổ chức của Công ty, giải thể các xí nghiệp thành viên và thành lập các phân xưởng sản xuất trực thuộc, đổi tên Công ty thành Mỏ than Dương Huy, nay là Công ty TNHH một thành viên than Dương Huy - Vinacomin.
 
7 năm qua tốc độ tăng trưởng mạnh
 
Bên cạnh việc củng cố kiện toàn bộ máy tổ chức của các phòng ban, phân xưởng trực thuộc Công ty; tập trung đầu tư mở rộng diện sản xuất, đặc biệt là áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới trong khai thác than hầm lò. Đến nay, Công ty đã có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đảm bảo tốt cho yêu cầu sản xuất than hiện tại cũng như lâu dài. Khai trường được quy hoạch và thiết kế khoa học, hệ thống nhà xưởng, các tuyến vận tải, nhà máy sàng, đường hầm Tuynel và nhiều công trình phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống được xây dựng hiện đại và đồng bộ. Thiết bị được đầu tư theo công nghệ mới như cột, giá thủy lực, máy đào lò Combai đạt hiệu quả cao...Bên cạnh đó, Công ty tập trung xây dựng đội ngũ; đổi mới cách thức quản lý, điều hành; áp dụng cơ chế khoán quản chi phí phù hợp và hiệu quả; phát huy được sức mạnh của các tổ chức đoàn thể tham gia  tích cực vào các mặt quản lý vv. Nhờ đó kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm qua tăng trưởng mạnh.
 
Năm 2000, sản lượng than khai thác đạt 0,5 triệu tấn, doanh thu 162,57 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 832 nghìn đồng/người/tháng, đến năm 2011, sản lượng than khai thác đạt 2,035 tiệu tấn (tăng gấp 4,06 lần so với năm 2000), doanh thu đạt 1.654,2 tỷ đồng (tăng gấp10,02 lần so với năm 2000) và thu nhập bình quân đạt 10,24 triệu đồng/người/tháng (tăng gấp 12,3 lần so với năm 2000).
 
Từ một đơn vị chuyên xây lắp, Công ty đã sản xuất đạt sản lượng 1,070 triệu tấn than hầm lò (năm 2005) và đến năm 2011 đạt sản lượng 1,508 triệu tấn than hầm lò. Đã có nhiều lò chợ dẫn đầu về năng suất và sản lượng  khai thác than lò chợ được Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tặng Cờ thi đua về đạt năng suất kỷ lục ngành Than. Tiêu biểu là lò chợ các Phân xưởng Khai thác than 1(2 lần đạt), Phân xưởng Khai thác than 2, Phân xưởng Khai thác than 3, Phân xưởng Khai thác than 4, Phân xưởng Khai thác than 7 và nhiều tổ đào lò đạt năng suất kỷ lục ngành Than thuộc các Phân xưởng Đào lò 1, Phân xưởng Đào lò 3…
 
Các điều kiện về nơi ăn ở, sinh hoạt, điều kiện đi lại, làm việc của công nhân được chăm lo chu đáo. Các khu nhà ở tập thể công nhân, khu nhà làm việc, nhà tắm giặt... được cải tạo xây dựng khang trang. Các hoạt động văn hoá thể thao, giải trí, tham quan du lịch được tổ chức thường xuyên từ Công ty đến các phân xưởng.
 
 Công ty đã đầu tư khai thác phần lò giếng mỏ than Khe Tam  khai thác ở mức + 40 xuống -350; giai đoạn I từ mức + 40 xuống -100 với tổng mức đầu tư 2.294 tỷ đồng. Hiện Công ty đã đưa 4 lò chợ trong Dự án này vào khai thác; phấn đấu đến năm 2020 Công ty đạt sản lượng 3 triệu tấn than hầm lò.
 
 Nhân dịp Công ty đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba, Công ty muốn nói lời tri ân sâu sắc tới các thế hệ cán bộ công nhân các thời kỳ, đã đoàn kết, vượt qua mọi gian khó, xây dựng Công ty ngày càng phát triển. Đặc biệt, CBCNV Công ty khắc ghi sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và tỉnh Quảng Ninh, lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than  - Khoáng sản Việt Nam suốt chặng đường xây dựng và phát triển 35 năm qua.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Đình Thịnh, Chủ tịch - Giám đốc Công ty

Tổng số điểm của bài viết là: 31 trong 7 đánh giá
Click để đánh giá bài viết